Động và tĩnh công phòng trị liệu hệ thống hô hấp

Phổi không chỉ có chức năng hô hấp mà còn là nơi lưu thông thủy dịch và thải độc. Tập luyện khí công không những giúp phổi khỏe mà còn giúp tim khỏe, máu và khí huyết lưu thông, đẩy lùi nhiều bệnh tật.
Để phòng và trị liệu các bệnh hô hấp kết hợp tập động công và tĩnh công như sau:
Về động công
Bài 1: Nâng trời, đẩy núi kết hợp hít thở. Hai tay bắt chéo trước ngực, co tay, lòng bàn tay hướng vào trong. Thực hiện hít vào đồng thời hai tay mở ra và nâng cao như đẩy trời lên rồi dừng thở, thả lỏng vùng ngực, đồng thời thu hai bàn tay về đỉnh đầu và hạ dần tới huyệt Đản trung (Đại huyệt nằm trung tâm cột sống giữa hai núm vú). Tiếp tục hít tiếp, đồng thời đẩy sang hai bên như đẩy hai trái núi ra xa. Sau đó hai tay cùng toàn thân thả lỏng. Khi thở ra, người từ từ gập xuống, mặt đối đất (lưu ý không chúi đầu xuống khi ấm dốc lên não gây hư não). Đứng dậy thì đứng thở, hai tay hoành lên bắt chéo trước ngực như thế dự bị ban đầu. Tập 10 lần.
Tác dụng: Tăng cường lượng khí ở phổi lên từ 1-1,5 lít/1 nhịp thở. Khí vào phổi mạnh và lan tỏa sâu xuống phế nang, giúp phổi được thanh lọc, thải hết trọc khí trong phế nang, làm chậm tần số thở và làm tăng cường tim, giảm nhịp tim và tuần hoàn máu tốt hơn.
Bài 2: Kéo cung kết hợp giúp lưu thông và điều hòa khí phổi: Hai bàn tay bắt chéo trước ngực (như bài 1). Hít vào kết hợp xoay eo về phía sau bên trái đồng thời hai tay kéo giãn như bắn cung, chếch lên 45° (tay trái trên, tay phải dưới). Khi thở ra hai tay thu về bắt chéo như lúc ban đầu, đồng thời xoay eo trở về. Tập 10 lần.
Tác dụng: Tăng cường lưu thông khí trong phế quản và phổi, có tác dụng chống viêm, chống ứ trệ và phù quản, phá vỡ những bế kết trong phổi làm cho phổi mạnh lên, đẩy lùi bệnh tật. Đặc biệt, bài tập cũng tốt cho cột sống, mở đới mạch, thông tâm thần, làm quân bình âm dương giúp quân bình sinh học cơ thể.

Ảnh minh họa

Về tĩnh công
Bài 1: Thở Đan điền, phần bụng dưới (cách rốn 4cm). Tác dụng làm cho thân tĩnh, thân ấm, chính khí được bảo tồn, tinh – khí – thần hội tụ (tam bảo quy nguyên).
Bài 2: Thở ngực: Khi hít vào tụ khí ở huyệt Đản trung. Khi thở ra thả lỏng lồng ngực và niệm âm “hê” trong tâm tưởng tác dụng khai mở tâm lực để lan tỏa năng lượng vào trung tâm, phế để lưu thông khí huyết, tăng sinh lực cho tạng phổi.
Bài 3: Thở Trung quản (thuộc tỳ thổ) để tăng cường cho phế quản phổi. Huyệt trung quản ở đường giữa bụng trên rốn 3cm. Khi hít vào tụ khí ở trung quản. Thở ra thả lỏng vùng trung quản và niệm âm “hu” trong tâm tưởng đồng thời quán tưởng năng lượng lan tỏa khắp ổ bụng. Tác dụng tăng cường công năng của tỳ thổ (lách và dạ dày) để bồi bổ cho phế.
Bài 4: Tiếp tục quán tưởng (tưởng tượng) vùng trung quản có một bông hoa sen màu vàng. Khi hít vào quán bông hoa sen cụp, thở ra quán hoa sen nở ra khắp vùng bụng trên. Tác dụng tăng cường cho bài 3.
Ngoài ra, có thể tăng cường thêm bấm day các huyệt: phế du, đản trung, trung quản và thông tuyến kết hợp xoa mũi, bụng và gõ bàn chân. Sống lạc quan, yêu đời, tinh thần yên tĩnh và có thể buông thả. Nên ăn các thức ăn bổ âm, nhuận táo như mộc nhĩ trắng, mía, lê, ngó sen, rau chân vịt, táo, lựu, nho, măng cầu, chanh, lười, sữa đậu nành, phổi heo, trứng vịt…
BS VÕ SƯ NGUYỄN VĂN THẮNG
(Chưởng môn phái Thăng Long võ đạo)

Trích dẫn bài đăng trên báo kh&ds