Home Y - Võ trị bệnh

Ứng dụng võ học vào trị bệnh

Khí công dưỡng sinh trị bệnh thoát vị đĩa đệm

Email In PDF

Khí công dưỡng sinh trị bệnh thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm do nguyên nhân cột sống kém vận động hay vận động mạnh gây nên. Cột sống với chức năng vận động cho phép là xoay tròn 180o, gập xuống 90o đến 120o, gập sau 75o. Khi vận động, các đốt sống xoay, nâng, ép để giãn mở sẽ kích thích tủy sống , kích hoạt các rễ thần kinh từ tủy sống lan tỏa ngoại biên và làm cho nội dịch bôi trơn đĩa đệm. Tuy nhiên, khi vận động cột sống phải nhẹ nhàng, đều đặn, nhu nhuyễn vì cột sống tuy cứng nhưng lại chứa đựng những bộ phận mềm mại, vi tế như tủy sống, các sợi thần kinh, dây chằng, đĩa đệm nên khi vận động quá mạnh sẽ gây các chấn thương thuộc chức năng của cột sống. Đây là nguyên nhân thường gây chấn thương ở các môn thể thao mạnh (thể thao thành tích cao). Điều đó giải thích tại sao các vận động viên ưu tú của chúng ta sau giai đoạn hành nghề hoặc sau khi “đăng quang” mang lại vinh quang cho tổ quốc thì đều bị chấn thương nặng hoặc nhẹ. Ngay các môn võ thuật là các môn vận động tổng hợp nhất vẫn thường xuyên có chấn thương. Cho nên cổ nhân đã nói luyện võ bất luyện công (khí công) thì vẫn bằng không. Chính thế tập các môn thể thao đều rất tốt, nếu luyện tập thêm môn cơ bản là khí công. Vì khí công sẽ làm tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là tinh – khí – thần.

1, Dinh dưỡng:

Nên ăn các chẩt ăn giàu canxi như tôm, ốc, cua đồng. lươn,  trạch, các thức ăn giàu đạm như thịt bò, dê, thịt bê, thịt động vật núi. Tăng cường ăn rau nhiều chất xơ. Bữa chính nên nhiều ngũ cốc như gạo, đỗ, lạc, vừng và các chất tinh dầu.

Nằm, ngồi luôn thả lỏng cơ thể. Khi ngồi ý thủ khoang bụng dưới. Khi nằm ý thủ vùng thắt lưng.

2, Khí công:

Vận động nhiều để khung cơ thể giãn nở như nguyệt túc phan duyên, thần long quyển trụ, phiên thân, chim bay.

Bài 1: nguyệt túc phan duyên

Ngồi dưới sàn, 2chân duỗi song song. Khi hít vào 2 tay vươn lên trời hình chữ “V”. Khi thở ra, mặt ép sát đầu gối, đồng thời 2 bàn tay nắm lấy chân. Khi dùng thở 2 tay nắm lại thu về bên hông. Thực hiện 9 lần.

Bài 2: Phiên thân

Chân phải trước, chân trái sau (chân trái như chống chân xe máy), 2 tay xuôi phía trước. Khi hít vào, 2 tay mở rộng ra 2 bên, đồng thời cột sống vận động từ trước ra sau. Thực hiện 9 lần.

Bài 3: Thần long quyển trụ (rồng thần quấn cột)

Vẫn ngồi dưới mặt sàn, 2 chân song song phía trước. 2 tay dang ngang bên vai. Khi hít vào xoay eo quay cột sống về bên trái, tay phải tiến tới vai trái (bàn tay ngửa). Mở ra xoay về tư thế ban đầu. Tiếp theo lại quay về phía bên phải theo cách thức như vậy, nhưng bàn tay đổi chiều. Thực hiện 9 lần.

Bài 4: Én bay

Nằm sấp trên mặt bàn, 2 chân co nổi lên mặt sàn, 2 tay song song bên thân cũng nâng nổi lên mặt sàn, người cong hình cánh cung, chỉ có bụng chạm mặt sàn. Thực hiện vận động trước sau như cần bập bênh.

 

Khí công trị bệnh táo bón và trĩ.

Email In PDF

Khí công trị bệnh táo bón và trĩ.

Bệnh táo bón và trĩ sinh ra do nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do cơ thể nóng hay do tức giận. Do đại tiện không theo nếp sinh họat. Do ăn đồ nóng, gia vị cay hoặc do ăn quá nhiều.

Bệnh táo bón thể hiện đi ngoài phân khô, nóng, tạo cục lổn nhổn không rõ khuôn. Người bệnh đi ngoài rất khổ sở, hậu môn đau, nóng rát và dễ chảy máu.

Khi đó trạng thái thần kinh rất căng thẳng, người nổi gai, mặt đỏ, hơi thở và người rất mệt.

Từ táo bón dễ phát triển thành trĩ. Trĩ biểu hiện phấn dưới trực tràng và búi tĩnh mạch dưới da của ống hậu môn giãn rộng, nổi lên ngoằn ngoèo và tím đen trên nền da gây bế đại tiện, làm áp thành thành bụng tăng, gây xung huyết do ứ trệ tuần hoàn máu, làm thành mạch căng phồng, dễ vỡ gây chảy máu.

Bệnh trĩ có 3 loại: trĩ nội hình thành ở niêm mạc bên trong hậu môn, trĩ ngoại thể hiện ở niêm mạc xung quanh hậu môn và trĩ hỗn hợp có biểu hiện cả 2 loại trên.

Khí công trị bệnh:

Bài 1: Ôm trăng trong lòng.

Bệnh nhân đứng thẳng, 2 chân rộng ngang vai, mũi bàn chân quay vào trong 15o, bụng như ôm vầng trăng (thủy chung bao nguyệt). Hít vào, người nổi lên , 2 tay co lên ngang ngực làm bụng óp lại, ngực nổi lên, mông co lại, hậu môn khép. Thở ra trở về tư thế chuẩn bị. Thực hiện 5 hơi thở.

Bài 2: Phúc địa, phiên thiên (ép đất nâng trời)

Đứng thẳng, 2 chân ngang vai, 2 bàn tay như ôm quả bóng, bàn tay phải để dưới, quay về bên trái, mặt trong bàn chân trái xoay về phía trước, bàn chân phải xoay mũi về bên trái và vuông góc với chân trái, đồng thời nổi gót. Khi đó bàn tay phải nổi lên như nâng trời và tay trái ép xuống như ép đất. Sẽ làm ngực nổi, bụng óp, mông co, hậu môn khép lại. Cứ đứng như vậy, hơi thở tự nhiên, tinh thần nhìn vào hư không cho rỗng lặng. Thở từ 12 đến 18 hơi thở. Sau đó trở về tư thế chuẩn bị.

Lặp lại tư thế trên nhưng ở phía bên phải.

Bài 3: Đảo ổ bụng:

Ngồi tọa dưới mặt sàn, hoặc ngồi trên ghế tựa, tay phải ép vùng rốn, tay trái bên ngòai. Quay tròn ổ bụng theo chiều kim đồng hồ 3 vòng, sau đó xoa tròn lòng bàn tay quoanh khoang bụng rộng dần theo vòng tròn xoáy chôn ốc, cũng theo chiều kim đồng hồ.

Tiếp theo lại đảo ổ bụng theo chiều ngược kim đồng hồ 3 vòng, sau đó lòng bàn tay lại xoa quanh khoang bụng theo chiều xóay chôn ốc nhưng hẹp dần, cùng chiều ngựơc kim đồng hồ.

Ngoài ra, bệnh nhân tập đi ngòai theo giờ quy định trong ngày, tránh dùng chất kích thích, chất nóng. Không nóng giận, giữ vùng hậu môn sạch sẽ. Ăn nhiều chất xơ và xenlulo như các loại ngũ cốc, các loại rau xanh giàu vitamin. Khi đi ngoài ra máu cần ăn tăng  cường chất đạm như gan lợn, óc lợn, óc bò, thịc nạc, trứng, sữa.

 

 

Khí công dưỡng sinh trị bệnh Gan

Email In PDF

Khí công dưỡng sinh trị bệnh Gan

Vì Gan thuộc can Mộc, thuộc mùa Xuân, màu xanh và tích trữ huyết. Khi gan bị bệnh, bệnh nhân bị đau hạ sườn, lan xuống bụng dưới, can khí vượng gây đau dầu, huyết áp tăng, ù ta. Vì vậy, người bị bệnh gan hay giận dữ, khó chịu. Hơn nữa, gan tàng hồn và thông qua mắt cho nên sinh mờ mắt, khó ngủ.

I, Khí công trị bệnh

1.1, Khí công nội dưỡng.

Người bệnh trước tiên thở bụng dưới, để tâm bình, khí hòa và trưởng dưỡng Tinh – Khí – Thần.

Tiếp theo là thở gan, khi hít vào thì ý thủ tại vùng mạn sườn phải, khi thở ra tả lỏng vùng gan và niệm và niệm âm “Hư” trong tâm tưởng, cách thở này làm thanh lọc gan, đưa chính khí vào và xả tà khí ra. Dần dần trả lại chức năng cho gan

1.2. Bình can tạng

Người bệnh đứng thẳng, 2 chân mở rộng bằng vai, 2 tay buông xuôi bên hông. Khi hít vào, người bệnh xoay eo và nhìn về bên phải, mắt mở to, đồng thời bàn tay trái áp vào vùng gan thuộc mạn sườn phải (bàn tay sấp), bày tay phải hoành ra sau lưng áo vào mệnh môn – giữa thắt lưng (bàn tay ngửa).

Khi thở ra, eo quay về tư thế ban đầu, hai tay buông xuôi bên hông như thế chuẩn bị ban đầu. Làm 18 hơi thở.

1.3. Vỗ đập can, thận

Từ tư thế chuẩn bị của pháp bình can tạng, khi hít vào thì xoay eo nhìn về bên phải, tay trái vỗ vùng gan (bàn tay sấp) và tay phải đập và vùng mệnh môn (bàn tay ngửa)

Khi thở ra, xoay eo về tư thế ban đầu, 2 tay bên hông. Thực hiện 18 hơi thở.

Ba phương pháp trên luyện tập quanh năm, ngày 2 lần nhưng hiệu quả mạnh nhất là vào mùa thu, luyện tập trong khoảng thời gian từ 5 – 7 giờ sáng. Người tập quay mặt về hướng đông.

2, Dưỡng sinh

Quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa Xuân. Chiều chiều hoặc sáng sớm đi bách bộ khu vườn cây hoặc công viên, nhìn màu xanh cho mát gan, khỏe thần, sáng mắt.

Nên ăn các hoa quả mẫunh hoặc màu vàng để thanh lọc và nhuận gan, uống nước hoa quả và nước rau má trong mùa xuân/

Không tức giận, nhìn nhiều để hồn nhập gan sẽ ngủ ngon.

 

Khí công trị bệnh viêm loét dạ dày

Email In PDF

Khí công trị bệnh viêm loét dạ dày

Bệnh viêm loét dạ dày là bệnh thường gặp ở người hay căng thẳng, lo lắng, chế độ ăn uống không hợp lý, thường dùng các chất kích thích như bia, rượi, cà phê hoặc các gia vị chua cay. Bệnh này liên quan nhiều đến trạng thái tinh thần, lo lắng bệng tật làm cho bệnh phát sinh và tăng trưởng.

Biểu hiện của bệnh thường là đau bụng thông thường hoặc âm ỉ thường xuyên. Đôi khi chướng, đau nhiều khi no hoặc đói, khi bị lạnh hoặc nóng giận.

1, Khí công trị bệnh.

1.1, Phương pháp 1:

Ngồi dứơi sàn, 2 chân duỗi song song và vuông góc với thân. Khi hít vào, 2 tay đưa lên cao hình chữ “V”, khi thở ra, gập đầu sát đầu gối, 2 tay khoanh ép lại trước bụng dưới. Khi dừng thở, 2 bàn tay nắm lại thu về bên hông. Thực hiện 18 hơi hở.

1.2, Phương pháp 2: Nhuần dưỡng tỳ vị.

Ta dùng pháp luyện thiên thủy. Người bệnh ngồi khoanh 2 chân theo tư thế kiết già hoặc bán già (bắt chéo hoặc đặt chân nọ lên chân kia), súc miệng 12 lần, sau đó đảo tròn lưỡi 12 lần trong ổ miệng theo chiều thuận và nghịch. Tiếp theo choẹt miệng cho thuỷ dịch vùng miệng tiết ra khoang miệng, ta thu về gốc lưỡi và nuốt xuống vùng thượng vị (vùng bụng trên rốn). Thực hiện 9 lần.

1.3, Phương pháp 3: Xoa bóp nội tạng.

Vẫn ngồi theo tư thế bình tọa, khi hít vào ta hóp bụng lại để thu hết nội tạng lên cao, khi thở ra người hạ thấp, thả lỏng để nội tạng trong ổ bụng hạ xuống.

1.4, Phương pháp 4: Xoa vùng rốn. Tay phải áp vào vùng rốn, tay trái áp ngoài tay phải. Từ từ xoay bàn tay theo chiều kim đồng hồ từ trong ra ngoài. Tiếp theo xoay tròng ngược kim đồng hồ từ ngoài vào trong. Thực hiện 9 lần.

2, Dưỡng sinh

Bênh nhân sống thanh thản, vui tươi, tránh giận dữ. Nên ăn nhiều bữa để thức ăn tiêu, ăn thêm cháo, súp. Ăn thức ăn dễ tiêu và nhai kĩ. Ăn đủ chất dinh dưỡng và vi lượng ở dạng tinh.

Uống sữa bò, đậu nành và canh trứng có nhiều chất dinh dưỡng và dễ tiêu hóa.

Không ăn quá no và không bị đói. Không ăn đồ sống lạnh. Không dùng chất kích thích như bia, rượi và gia vị cay nóng. Không dùng bánh kẹo, đồ ngọt trực tiếp, chỉ dùng qua hoa quả với lượng đủ.

 

Khí công dưỡng sinh trị bệnh xơ vữa động mạch

Email In PDF

Khí công dưỡng sinh trị bệnh xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch do rối loạn chuyển hóa chất béo (lipid) kết hợp với sự lão hóa thành mạch máu. Bệnh thường gặp ở bệnh nhân trung niên.

1, Dưỡng sinh:

An ổn tinh thần là đầu tiên, nên tu tâm dưỡng tính, biết buông bỏ buồn phiền, lo âu, oán giận và đau khổ để sống thư giãn an định, phải biết giảm sức ép của tinh thần và công việc.

Ăn uống: ăn ít mỡ, đạm, đường. Đặc biệt các món ăn có hàm lượng cholesteron cao như nội tạng, não, tủy xương, bơ, sữa và chế phẩm. Nên ăn nhiều rau, gạo, ngũ cốc, thịt nạc, hoa quả, dùng dầu thực vật. Có thể ăn đậu ván, sữa bò, cà rốt, ớt, rau hẹ, cá rô, cá diếc, sò, tôm he, hành tây, rau cần, đậu xanh.

Không hút thuốc lá và dùng bia rượi.

2, Khí công:

Phép thư giãn: hít vào ý thủ đan điền (khoang bụng dưới), thở ra buông thả toàn thân. Thực hiện 18 hơi thở.

Phép thanh tâm: hít vào nhận biết toàn thân, thở ra mỉm cười với bản thân.

Phép dẫn khí: hít vào dùng ý niệm dẫn khí đến đan điền (khoang bụng dưới), thở ra dùng ý niệm dẫn khí xuống huyệt Dũng tuyền (giữa gan bàn chân).

Phép rỗng thân: khí hít vào thấy rõ thân mình, khi thở ra thấy thân mình biến trong hư không.

 
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Thăng Long Võ Đạo

Sample image Hội tụ tinh hoa của nền võ thuật cổ truyền Kinh Bắc cùng với sự trải nghiệm trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Sáng tổ Võ sư Nguyễn Văn Nhân, Thăng Long Võ Đạo đang từng ngày xứng đáng với chữ "Rồng bay" đem tinh túy Khí công và Võ học ra giúp đời

BQT Website

Địa chỉ: Số nhà 179 Ngõ Hồng Mai - Hai Bà Trưng - HN
Điện Thoại: 0904801133-(84) 904801133 04 38636066-(844) 38636066
Mail to : thanglongvodao@gmail.com
Website: www.thanglongvodao.com